Giáo viên “sốc” bởi quy định chuẩn chức danh nghề nghiệp

2
110975

 

Mot lơp SP TA tiêu hocDù tỷ lệ đạt chuẩn về bằng cấp cao, nhưng chỉ 5% giáo viên THPT và 8% giáo viên THCS đạt chuẩn theo yêu cầu đề án ngoại ngữ quốc gia, đó là thực trạng được nêu lên tại một Hội thảo toàn quốc về đào tạo NN do Bộ GD&ĐT tổ chức năm 2014.

Mới đây (ngày 3/11/2015) Bộ GD&ĐT cùng Bộ Nội vụ ban hành các Thông tư (số 21, 22) quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên công lập. Căn cứ theo Thông tư này, việc phân loại GV thành từng hạng, ngoài bằng cấp chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm thì phải có các chứng chỉ kèm theo về Tin học, Ngoại ngữ. Việc nâng bậc lương   căn cứ vào từng cấp hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên, đã đưa GV vào cảnh phải “vắt chân lên cổ” để đối phó với bằng cấp, chứng chỉ, đặc biệt là Tin học, Ngoại ngữ. 

                Giáo viên “vắt chân lên cổ” để đối phó 

Tại Đà Nẵng,  địa phương từng được đánh giá là có tỷ lệ GV đạt chuẩn cao về Tin học, Ngoại ngữ nhưng không ít trường, GV tỏ ra hoang mang, lo lắng khi Hiệu trưởng triển khai CV của Sở về các quy định của Thông tư tới toàn thể CBQL, GV. Cô giáo M.Ng, người có thâm niên trong nghề hơn 30 năm tỏ ra chán nản:” Chúng tôi chỉ còn vài ba năm nữa là nghỉ hưu, mà phải lo đi thi kiếm cái bằng Anh văn cho đủ chuẩn thì quá sức vô lý. Thời gian đâu để mà học, hơn nữa tuổi này học ngoại ngữ làm sao học cho được?”.Còn cô LT, tổ trưởng chuyên môn ở một trường THPT khác phát biểu: “Để có được chứng chỉ Ngoại ngữ hay Tin học thì không còn cách nào khác là chúng tôi phải bỏ tiền ra mua mà thôi”. Các cô cho biết Thông tư đã có hiệu lực. Theo CV số 4211 của Sở Giáo dục và Đào tạo TP Đà Nẵng thì tới ngày 31/12/2015, họ phải hoàn thành các hồ sơ thủ tục theo quy định. Trong một thời hạn quá gấp rút như vậy thì chỉ còn có cách là nộp tiền đi học các lớp cấp tốc ở tại các trung tâm Ngoại ngữ, Tin học để lấy chứng chỉ. Giá một khóa “cấp tốc” như thế cho môn Ngoại ngữ là 700.000 đồng/GV; và môn Tin học là 600.000/GV. Khi được hỏi làm sao trong một thời gian rất ngắn như vậy mà các GV có thể tiếp thu kiến thức để đạt yêu cầu cấp chứng chỉ, thì họ đều trả lời là phải có sự hỗ trợ hoàn toàn của các kỹ thuật viên của Trung tâm (làm thay cho GV), chứ thời giờ, đầu óc nào mà học.

Thầy N.D, GV một trường THCS cũng tỏ ra băn khoăn: Nếu đối chiếu với Thông tư liên tịch của Bộ, thì bằng cấp CĐSP và mức lương mà thầy ND đang được hưởng hiện nay tương ứng với giáo viên THCS hạng III . Để lên được giáo viên hạng II, hạng I, thầy cần phải nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, mà trước mắt là đạt trình độ đại học sư phạm đúng chuyên ngành; có trình độ ngoại ngữ bậc  2, 3; có trình độ Tin học đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản…Vậy, làm thế nào thầy có thể theo kịp những yêu cầu đặt ra, nếu không phải nỗ lực tìm cách đối phó?

GV ở vùng thuận lợi còn vậy, huống gì GV ở những vùng khó. Hiện tại, họ cũng đã phải tìm mọi cách để bổ sung những yêu cầu đặt ra trong Thông tư. Cô giáo N.T.H,  hiện đang giảng dạy tại một trường Tiểu học ở Kon Tum tâm sự: “Dù cấp trên không nói chúng em phải bắt buộc có tất cả các điều kiện, nhưng không ai muốn mình bị chậm nâng lương, bị xếp hạng tụt hậu cả. Mà thời gian dạy ở trường của bọn em kín hết cả, ngoài giờ còn phải soạn bài, làm đồ dùng dạy học, vậy thời  giờ đâu để học học tiếng Anh , lấy chứng chỉ tiếng Anh theo chuẩn châu Âu mà Bộ quy định?”.

Ngay cả với những giáo viên dù không nằm trong số giáo viên được xét chuyển ngạch lương nhưng vẫn lo lắng và tìm địa điểm đăng kí học vì họ sợ nếu không có chứng chỉ ngoại ngữ thì sẽ bị luân chuyển đi nơi khác.

Truong Ca LOTập thể lãnh đạo, CBQL trường THPT Cam Lộ luôn tìm giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo

Phân hạng là cần thiết nhưng cần tránh hình thức
Theo Thông tư liên tịch  số 21/2015/TTLT-BGDĐT-BNV Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên Tiểu học công lập quy định:
Tiêu chuẩn giáo viên tiểu học hạng II là có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm tiểu học hoặc đại học sư phạm các chuyên ngành phù hợp với bộ môn giảng dạy trở lên; có trình độ ngoại ngữ bậc 2 hoặc có chứng chỉ tiếng dân tộc đối với những vị trí việc làm yêu cầu sử dụng tiếng dân tộc; có trình độ Tin học đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản; có chứng chỉ bồi dưỡng giáo viên tiểu học hạng II.
Giáo viên tiểu học hạng III có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm tiểu học hoặc cao đẳng sư phạm các chuyên ngành phù hợp với bộ môn giảng dạy trở lên; trình độ ngoại ngữ bậc 2 hoặc có chứng chỉ tiếng dân tộc đối với những vị trí việc làm yêu cầu sử dụng tiếng dân tộc; có trình độ Tin học đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản; có chứng chỉ bồi dưỡng giáo viên tiểu học hạng III.

Thông tư liên tịch  số 22/2015/TTLT-BGDĐT-BNV Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở công lập yêu cầu:  Giáo viên THCS hạng II có bằng tốt nghiệp Đại học Sư phạm trở lên hoặc Đại học các chuyên ngành phù hợp và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, có trình độ ngoại ngữ bậc 2, có trình độ Tin học đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản.

Tóm lại, GV mỗi cấp học được chia thành 3 hạng. Mức lương của giáo viên cấp tiểu học từ hệ số lương 1,86 đến 4,98; giáo viên cấp THCS hưởng mức lương từ 2,10 đến 6,38; giáo viên cấp THPT hưởng lương từ 2,34 đến 6,78.

Theo CBQL các trường thì việc phân hạng GV là cần thiết, vừa đảm bảo sự công bằng, vừa là động lực thúc đẩy GV chịu khó nghiên cứu, bồi dưỡng nâng cao tay nghề, nhất là đáp ứng yêu cầu của đổi mới giáo dục đặt ra. Tuy nhiên, còn một số quy định trong phân hạng chưa phù hợp thực tế. Để đạt được giáo viên hạng I đối với bậc THPT không phải là dễ dàng vì đòi hỏi giáo viên phải có bằng tốt nghiệp thạc sĩ  đúng hoặc phù hợp với môn học giảng dạy trở lên; có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm (nếu không có bằng đại học sư phạm); đạt trình độ ngoại ngữ bậc 3 hoặc có chứng chỉ tiếng dân tộc đối với những vị trí việc làm yêu cầu sử dụng tiếng dân tộc. Đối với giáo chuẩn kỹ năng viên dạy ngoại ngữ thì trình độ ngoại ngữ thứ hai phải đạt bậc 3 theo quy định; có trình độ Tin học đạt sử dụng công nghệ thông tin cơ bản và có chứng chỉ bồi dưỡng giáo viên THPT hạng I…

Riêng với những GV tuổi đời trên 50, thiết nghĩ cũng nên linh hoạt, để họ không phải chật vật đối phó với chứng chỉ, bằng cấp không mang lại hiệu quả về chất lượng.

Phần đông GV còn cho rằng, những quy định trong Thông tư về Tin học, Ngoại ngữ vô tình đã tiếp tay cho tiêu cực, còn GV phải hao tổn một số tiền lớn, có khi phải hàng triệu bạc cho những trung tâm “dạy chơi, ăn thật” đang mọc lên như nấm khắp nơi hiện nay!

Uyên Phương            

2 COMMENTS

  1. người ta cũng biết nhất là mấy ông to ở trên biết nhưng vẫn cứ phải làm vì đề án như vậy càng khó thì càng được nhiều tiền bỏ túi, chứ ko có đề án này thì mấy ông ấy ăn gì . theo tôi thì ngoài 40 đã học ngoại ngữ ko nổi rồi cần chi đến 50 . 50 học chữ phạm rồi chuyển hộ khẩu sang thế giới bên kia dùng là vừa

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here